Câu hỏi:
Tôi hiện đang công tác tại Công ty cổ phần có tỷ lệ vốn Nhà nước trên 51%, đang phụ trách công tác lao động tiền lương. Theo tôi hiểu trước đây các thành viên Hội đồng quản trị công ty cổ phần không phải ký kết hợp đồng lao động. Xin hỏi theo quy định mới hiện nay thì những thành viên nào trong công ty không phải ký hợp đồng lao động, căn cứ pháp luật. Xin chân thành cảm ơn!
Trả lời:
Căn cứ Điều 15, Bộ luật Lao động năm 2012 (BLLĐ) có quy định: Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
Tại Khoản 1, 2 Điều 3 BLLĐ có nêu rõ khái niệm:
1. Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động (HĐLĐ), được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động (NSDLĐ).
2. Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo HĐLĐ; nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
Trong doanh nghiệp, ai là người có thẩm quyền ký kết HĐLĐ với người lao động? Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 14 Thông tư 30/2013/TT-BLĐTBXH Hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 44/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về HĐLĐ thì NSDLĐ có thẩm quyền ký kết HĐLĐ bao gồm:
– Người đại diện theo pháp luật quy định tại Điều lệ của doanh nghiệp hoặc người được người đại diện theo pháp luật ủy quyền đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp;
– Người đại diện theo pháp luật quy định tại Điều lệ hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoặc người được người đại diện theo pháp luật ủy quyền đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động theo Luật hợp tác xã;
– Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức hoặc người được người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức ủy quyền đối với cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội có sử dụng lao động làm việc theo chế độ HĐLĐ;
– Người đứng đầu tổ chức hoặc người được người đứng đầu tổ chức ủy quyền đối với cơ quan, tổ chức, chi nhánh, văn phòng đại điện của nước ngoài hoặc quốc tế đóng tại Việt Nam;
– Chủ hộ hoặc người đại diện hộ gia đình có thuê mướn, sử dụng lao động;
– Cá nhân trực tiếp sử dụng lao động.
Như vậy, Luật pháp đã quy định cụm từ: NSDLĐ và NLĐ để phân biệt một cách rất rõ nét vị trí vai trò và thẩm quyền ký kết. Trong Công ty thì người đại diện theo pháp luật của Công ty sẽ đại diện cho Công ty ký kết HĐLĐ với tư cách NSDLĐ. Nếu Giám đốc không phải là người đại diện theo pháp luật của Công ty thì không phải là NSDLĐ, mà Người đại điện theo pháp luật của Công ty sẽ đại diện cho Công ty thực hiện ký kết HĐLĐ với vai trò NSDLĐ.
Trước đây, tại Khoản 2, Điều 2, Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ có quy định các trường hợp không áp dụng HĐLĐ như sau:
a) Những người thuộc đối tượng điều chỉnh của Pháp lệnh Cán bộ, công chức;
b) Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp chuyên trách, người giữ các chức vụ trong cơ quan của Quốc hội, Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp, Toà án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân được Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân các cấp bầu hoặc cử ra theo nhiệm kỳ;
c) Người được cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm giữ chức vụ Tổng Giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng trong doanh nghiệp nhà nước;
d) Thành viên Hội đồng quản trị doanh nghiệp;
đ) Những người thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội hoạt động theo Quy chế của tổ chức đó;
e) Cán bộ chuyên trách công tác đảng, công đoàn, thanh niên trong các doanh nghiệp nhưng không hưởng lương của doanh nghiệp;
g) Xã viên Hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã không hưởng tiền lương, tiền công;
h) Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp và viên chức trong lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân.
Tuy nhiên, đến nay Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ đã hết hiệu lực được thay thế bằng Nghị định số 44/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về HĐLĐ.
Tại Nghị định số 44/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ không quy định về các trường hợp không áp dụng HĐLĐ nữa. Như vậy, thành viên Hội đồng quản trị doanh nghiệp nếu có liên quan về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động thì vẫn thuộc đối tượng phải ký HĐLĐ. Còn cán bộ chuyên trách công tác đảng, công đoàn, thanh niên trong các doanh nghiệp nhưng không hưởng lương của doanh nghiệp và Người đại điện theo pháp luật của Công ty thì không thuộc đối tượng phải ký HĐLĐ.
Nguồn: congdoanlaodong.org.vn


