Câu hỏi: Lâu nay tôi thường nghe nhiều đến người làm chứng, nhưng hôm trước gặp anh bạn làm nhà báo cho biết anh đang đi tìm tư liệu để viết một bài tựa đề về người chứng kiến trong tố tụng hình sự. Nghe thấy rất lạ, vậy pháp luật đã quy định như thế nào về người chứng kiến?
Trả lời:
Điều 66 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định người chứng kiến là cá nhân được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu chứng kiến việc tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này.
Tương tự như người làm chứng, trong một số trường hợp cá nhân cũng không được làm người làm chứng, đó là:
– Người thân thích của người bị buộc tội và người tiến hành tố tụng;
– Người đó có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức đúng sự việc;
– Người chưa thành niên;
– Có lý do khác cho thấy người đó không khách quan.
Người chứng kiến có các quyền như sau:
– Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này.
– Yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tuân thủ đúng quy định của pháp luật, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình hoặc của người thân thích của mình;
– Xem biên bản tố tụng, đưa ra nhận xét về hoạt động tố tụng mà mình chứng kiến;
– Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia chứng kiến;
– Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí theo quy định của pháp luật.
Đồng thời với quyền, người chứng kiến có các nghĩa vụ:
– Có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
– Chứng kiến đầy đủ hoạt động tố tụng được yêu cầu;
– Ký các biên bản về hoạt động mà mình chứng kiến;
– Giữ bí mật về hoạt động điều tra mà mình chứng kiến;
– Trình bày trung thực tất cả những tình tiết mà mình chứng kiến theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.


